Ở nước ta trong những năm gần đây, bệnh dại đang có chiều hướng gia tăng và thực sự là mối nguy hiểm lớn cho con người và vật nuôi. Hàng năm đều có người chết do bị chó dại cắn và cả nước có khoảng 15.000 – 18.000 người bị chó dại cắn buộc phải tiêm phòng. Cho đến nay, bệnh dại vẫn chưa có thuốc chữa trị đặc hiệu khi bệnh đã bộc phát.

Bệnh dại được đánh giá là bệnh truyền nhiễm gây chết người kinh sợ nhất của loài người. Chính vì vậy, bệnh dại được tổ chức Y tế thế giới (WHO) xếp vào hạng thứ 12 trong các bệnh truyền nhiễm gây tử vong. Đây là một bệnh có thể chủ động phòng tránh được, chỉ có phương pháp tiêm phòng sớm, đúng mới mong cứu sống được người bệnh.

1. Khái niệm

Là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm chung giữa động vật và người, gây nên những cái chết với triệu chứng rất thảm khốc. Đặc điểm của bệnh là virút tác động vào hệ thần kinh gây rối loạn thần kinh trung ương là não bộ làm cho con vật trở nên hoãng loạn (điên dại) và chết. Nguồn mang bệnh dại chủ yếu là chó (90%), mèo nuôi (5%) và động vật hoang dã.

2. Cách truyền lây

  • Bệnh lây chủ yếu qua vết cắn, virút dại được truyền trực tiếp từ chó dại sang chó khỏe và người qua nước bọt tại vết cắn.
  • Virút có nhiều trong nước bọt của thú mang bệnh dại. Qua vết cắn, liếm vết thương của người hoặc con vật khác, virút sẽ xâm nhập vào cơ thể, nhân lên và hướng tới hệ thần kinh, phá huỷ mô thần kinh, gây nên những kích động điên dại và kết thúc bằng cái chết.
  • Nếu ở vùng có dịch bệnh dại, các chất thải như: nước dãi, nước tiểu, . . .v.v của động vật bị bệnh dại chứa hàm lượng virút cao cũng có nguy cơ lây nhiễm đối với các động vật đã có vết thương hở. Đặc biệt, virút dại đã có trong nước bọt của chó, mèo từ 10 – 15 ngày trước khi con vật phát bệnh, vì vậy tại thời điểm này nếu người bị chó, mèo cắn, liếm hoặc tiếp xúc trực tiếp với con vật thì người rất dễ bị lây nhiễm virút dại, tuy nhiên do con vật chưa có triệu chứng lâm sàng nên người dễ bỏ qua mà không chú ý đề phòng.

3. Triệu chứng lâm sàng

a. Thời kỳ ủ bệnh: Thời kỳ ủ bệnh có thể thay đổi từ 7 ngày đến nhiều tháng tùy thuộc loài, độc lực của virút và vị trí vết cắn. Đa số bệnh phát ra trong vòng 21 – 30 ngày sau khi con vật nhiễm virút. Ở chó thời gian này trung bình: 10 ngày.

b. Các biểu hiện lâm sàng: Thường được chia làm 2 thể:

  1. Thể dại điên cuồng.
  2. Thể dại câm (bại liệt).

Trong thực tế, nhiều con chó mắc bệnh dại có thể biểu hiện cả 2 dạng lâm sàng này một cách xen kẽ nhau, thời gian đầu có biểu hiện điên cuồng, bị kích động rồi sau đó chuyển sang dạng bị ức chế và bại liệt.

Thể dại điên cuồng: Được chia làm 3 thời kỳ:

– Thời kỳ tiền lâm sàng: Chó bị dại có dấu hiệu khác thường như: trốn vào góc tối, kín đáo, đến gần chủ miễn cưỡng hoặc trái lại, tỏ ra vồn vã thái quá, thỉnh thoảng sủa vu vơ, tru lên từng hồi hoặc bồn chồn, . . . .v.v.

– Thời kỳ điên cuồng:

  • Các phản xạ vận động bị kích thích mạnh, cắn sủa người lạ dữ dội, quá vồ vập khi chủ gọi, chỉ cần có tiếng động nhẹ cũng nhảy lên sủa từng hồi dài.
  • Vết thương nơi bị cắn ngứa, chó liếm hoặc tự cắn, cào đến rụng lông, chảy máu.
  • Chó bỏ ăn, nuốt khó, sốt, mắt đỏ ngầu, dãn đồng tử, con vật có biểu hiện khát nước, muốn uống nhưng không nuốt được, chó bắt đầu chảy nước dãi, sùi bọt mép, tỏ vẻ bồn chồn, cảnh giác, sợ sệt, cắn vu vơ hay giật mình, đi lại không có chủ định, trở nên hung dữ, điên cuồng (2 – 3 ngày sau khi phát bệnh).
  • Con vật bỏ nhà đi và thường không trở về, trên đường đi gặp vật gì lạ nó cũng cắn gặm, ăn bừa bãi, tấn công chó khác, kể cả người.
Bệnh dại và cách phòng ngừa

– Thời kỳ bại liệt:

  • Chó bị liệt, không nuốt được thức ăn, nước uống, liệt hàm dưới và lưỡi nên trễ hàm, thè lưỡi ra ngoài, nước dãi chảy ra, chân sau liệt ngày càng rõ.
  • Chó chết trong khoảng từ 3 – 7 ngày sau khi có triệu chứng đầu tiên, do liệt cơ hô hấp và do kiệt sức vì không ăn uống được.

Thể dại điên cuồng chỉ chiếm khoảng 1/4 các trường hợp chó dại, số còn lại là thể dại câm.

Thể dại câm: Là dạng bệnh không có các biểu hiện lên cơn dại điên cuồng như thường thấy, chó chỉ có biểu hiện buồn rầu.

  • Có thể bị bại ở một phần cơ thể, nửa người hoặc 2 chân sau nhưng thường là liệt cơ hàm, mồm luôn hé mở, hàm trễ xuống, lưỡi thè ra.
  • Nước dãi chảy lòng thòng, con vật không cắn, sủa được, chỉ gầm gừ trong họng.
  • Quá trình này tiến triển từ 2 – 3 ngày.

Nói chung, thể dại câm tiến triển nhanh hơn thể dại điên cuồng, thông thường chỉ từ 2 – 3 ngày vì hành tủy của con vật bệnh bị virút tác động làm rối loạn hệ tuần hoàn và hô hấp sớm hơn.

Bệnh dại và cách phòng ngừa

Riêng ở mèo, ít bị mắc bệnh dại hơn chó (2 – 3%) vì mèo quen sống một mình. Bệnh dại ở mèo cũng tiến triển như ở chó. Mèo bệnh hay núp mình vào chỗ vắng, bóng tối, hay kêu, bồn chồn, không nằm yên một chỗ, khi người chạm vào thì nó cắn mạnh và cào, gây nên vết thương sâu tạo điều kiện cho vi rút dại xâm nhập.

4. Phòng bệnh

– Khi đã lên cơn dại thì không thể chữa trị được kể cả người và động vật. Chỉ phòng bệnh bằng vắcxin dại nhược độc khi bị chó cắn.

– Người nuôi, buôn bán, giết mổ, vận chuyển kinh doanh chó, mèo cần thực hiện:  “5 không”

a) Không nuôi chó, mèo chưa khai báo với chính quyền địa phương.

b) Không nuôi chó, mèo không tiêm phòng bệnh dại.

c) Không nuôi chó thả rông.

d) Không để chó cắn người.

đ) Không nuôi chó, mèo gây ô nhiễm môi trường.

Trách nhiệm của người nuôi chó:

– Phải đăng ký số lượng chó nuôi với Trưởng ấp (trưởng thôn) hoặc Tổ trưởng dân phố.

– Tiêm phòng dại định kỳ hàng năm của cơ quan thú y. Thời điểm tiêm phòng:

  • Tiêm lần đầu cho chó con được 4 tuần tuổi.
  • Nếu chó con được sinh ra từ chó mẹ đã được tiêm phòng thì tiêm cho chó con vào lúc chó được 3 tháng tuổi và sau đó tiêm nhắc lại mỗi năm một lần.

– Phải thường xuyên xích chó, nuôi chó trong nhà, không được thả rông ngoài đường. Ở thành phố, thị trấn, khu dân cư khi dắt chó ra nơi công cộng phải có dây xích, phải rọ mõm và có người dắt, không để chó đi lang thang ngoài đường, phố làm mất vệ sinh nơi công cộng.

– Mỗi hộ gia đình chỉ nên nuôi 1 – 2 con chó để giữ nhà. Trong trường hợp nuôi nhiều (trên 5 con không kể chó mới sinh) phải có tờ trình về điều kiện nuôi và được cơ quan thú y địa phương xác nhận đủ điều kiện vệ sinh thú y.

– Vệ sinh sạch sẽ chuồng nuôi.

– Khi phát hiện chó, mèo có những biểu hiện bất thường, bỏ ăn hoặc ăn ít, sốt cao, hung dữ khác thường thì báo ngay cho nhân viên thú y cấp xã.

* Lưu ý: Chó chết do mắc bệnh dại hoặc nghi mắc bệnh dại phải đem chôn hoặc đốt xác./.

Trương Tấn Liêm

Nguồn: suckhoegiadinh.edu.vn